Những chuyện kể về tấm gương Đạo đức Hồ Chí Minh tập một - Phần hai

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Thương
Ngày gửi: 11h:00' 03-09-2025
Dung lượng: 816.2 KB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Thương
Ngày gửi: 11h:00' 03-09-2025
Dung lượng: 816.2 KB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
Nhöõng göông chieán só caùch maïng hoïc taäp vaø laøm theo tö töôûng,...
Phaàn II
NHÖÕNG GÖÔNG CHIEÁN SÓ
CAÙCH MAÏNG HOÏC TAÄP
VAØ LAØM THEO TÖ TÖÔÛNG,
TAÁM GÖÔNG ÑAÏO ÑÖÙC,
PHONG CAÙCH HOÀ CHÍ MINH
159
NHIEÀU TAÙC GIAÛ
160
Nhöõng göông chieán só caùch maïng hoïc taäp vaø laøm theo tö töôûng,...
BÁC TÔN - NHÀ CÁCH MẠNG BẤT TỬ *
B
ác Tôn Đức Thắng, sinh ngày 20-8-1888 trong
một gia đình nông dân nghèo tại làng Mỹ Hòa
Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang mất lúc 6 giờ
35 phút, ngày 30-3-1980 tại Hà Nội, hưởng thọ 92 tuổi.
Bác Tôn là một trong những chiến sĩ cách mạng lớp
đầu tiên của phong trào công nhân và phong trào giải phóng
dân tộc ở nước ta, là người bạn chiến đấu thân thiết của Chủ
tịch Hồ Chí Minh.
Hiến dâng cả cuộc đời cho độc lập tự do của dân tộc và
cho lý tưởng cộng sản chủ nghĩa - Bác Tôn Đức Thắng là một
hình ảnh sáng ngời của tinh thần cách mạng bất khuất và
đạo đức cách mạng trong sáng. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí
* Tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị - Hành chính,
Hà Nội, 2009, tr.236.
161
NHIEÀU TAÙC GIAÛ
Minh đã nói: Đồng chí Tôn Đức Thắng là một gương mẫu
đạo đức cách mạng, suốt đời cần kiệm liêm chính, suốt đời
hết lòng hết sức phụ vụ cách mạng, phục vụ nhân dân.
Gần 70 năm đấu tranh không mệt mỏi cho sự nghiệp
cứu nước, giải phóng dân tộc, gần 17 năm bị đế quốc thực
dân bắt giam ở Khám lớn Sài Gòn và địa ngục trần gian Côn
Đảo, Bác đã tỏ rõ lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng.
Trước sự khủng bố tàn bạo của quân thù, với biết bao cực
hình, tra tấn dã man, khi thì nhốt vào hầm xay lúa, khi thì
nhốt vào hầm tối tay chân bị xiềng xích còng kỵ, khi thì cho
ăn lúa sống hoặc bỏ đói, bỏ khát… Song, Bác Tôn luôn nêu
cao tinh thần cách mạng kiên cường, tin tưởng vững chắc
vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.
Sau Cách mạng tháng Tám, từ Côn Đảo trở về. Vừa đặt
chân lên đất liền, Bác lại tham gia hoạt động cách mạng ngay.
Góp phần cùng với Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ
và Mặt trận lãnh đạo nhân dân tiến hành đấu tranh cách
mạng để giải phóng và xây dựng đất nước…
Sau ngày cách mạng thành công, Bác Tôn được Đảng
phân công đảm nhiệm nhiều cương vị, trọng trách khác
nhau. Nhưng dù ở bất kỳ cương vị công tác nào Bác cũng
luôn luôn phấn đấu hết sức mình để hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ mà Đảng, Chính phủ và nhân dân giao phó.
Trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày, Bác Tôn là
con người vô cùng giản dị, vẫn là người công nhân, vẫn giữ
162
Nhöõng göông chieán só caùch maïng hoïc taäp vaø laøm theo tö töôûng,...
cái kìm, cái búa… và tự sửa lấy xe đạp cho mình… Bác Tôn
của chúng ta là con người như thế. Tinh túy của phẩm chất
ấy chính là lòng yêu nước thương dân, niềm tin sắt đá vào
thắng lợi của cách mạng. Kiên trung, khiêm tốn và giản dị
chân thành, hòa mình trong quần chúng là đức tính xuyên
suốt cuộc đời của Bác Tôn.
Bác Tôn Đức Thắng - một con người bình thường
nhưng vô cùng cao quý. Tấm gương về đạo đức cách mạng
cần kiệm, liêm chính, hết lòng hết sức phụng sự cách mạng,
phục vụ nhân dân của Bác mãi mãi để cho mọi thế hệ Việt
Nam học tập và noi theo.
Một con người rất ưu tú của Tổ quốc*
“Một chiến sĩ cách mạng của dân tộc và chiến sĩ cách
mạng thế giới” là đánh giá về Bác Tôn Đức Thắng trong
lời phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Lễ trao Huân
chương Sao vàng - Huân chương cao quý nhất của Nhà nước
ta tặng Bác Tôn và Bác cũng là người đầu tiên ở nước ta được
nhận Huân chương cao quý đó,
Chủ tịch Tôn Đức Thắng là một chiến sĩ lớp đầu của
phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc của
nước ta, là người bạn chiến đấu thân thiết lâu năm của Hồ
* Tôn Đức Thắng - Người cộng sản mẫu mực, biểu tượng của đại đoàn kết,
Nxb. Chính trị quốc gia, H.2003, tr.30-31.
163
NHIEÀU TAÙC GIAÛ
Chủ tịch. Bác là một trong những người công nhân Việt
Nam đầu tiên hoạt động trong phong trào công nhân Pháp,
tham gia cuộc nổi dậy của hải quân Pháp ở Biển Đen, kéo là
cờ đỏ trên chiến hạm Pháp ủng hộ nước Nga Xôviết, Nhà
nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, là người xây
dựng Công hội đỏ, tiền thân của Tổng Liên đoàn lao động
Việt Nam ngày nay.
Cuộc đời hoạt động của Bác Tôn là cuộc chiến đấu
đầy gian lao, thử thách. Gần 17 năm bị thực dân bắt giam ở
Khám lớn Sài Gòn và địa ngục Côn Đảo, Bác luôn nêu cao
tinh thần cách mạng kiên cường, tin tưởng vững chắc vào
thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã
hội; nêu tấm gương sáng dẫn dắt nhiều đồng chí vững bước
tiến lên trước những thử thách, cam go của đấu tranh cách
mạng.
Kiên trung, khiêm tốn, giản dị là đức tính suốt đời của
Bác Tôn, từ khi là người chiến sĩ cộng sản bình thường cho
tới lúc giữ những trọng trách cao nhất của Nhà nước; những
đồng chí đã ở tù với Bác suốt 17 năm và làm việc với Bác hơn
30 năm đều thấy ở Bác một tấm gương “suốt đời cần kiệm,
liêm chính; suốt đời hết lòng phục vụ cách mạng, phục vu
nhân dân” như lời phát biểu của Bác Hồ.
Bác Tôn đã sống trọn một đời cao đẹp của người chiến
sĩ cộng sản. Cống hiến vô giá của Bác là nêu lên cho thế hệ
những người cách mạng nước ta, cho chúng tôi và lớp trẻ
164
Nhöõng göông chieán só caùch maïng hoïc taäp vaø laøm theo tö töôûng,...
chúng ta tấm gương chiến đấu hy sinh và đạo đức trong sáng
của một người cộng sản vì Tổ quốc, vì nhân dân.
Tôi cũng thường đến thăm Bác Tôn ở nhà riêng. Cảm
tưởng để lại cho tôi trong những dịp đó là vô cùng xúc động.
Bác Tôn là con người vô cùng giản dị, vẫn là người công
nhân, vẫn giữ cái búa, cái kìm… và tự chữa lấy xe đạp của
mình. Bác Tôn của chúng ta là một con người như thế, một
con người tiêu biểu cho tinh thần cách mạng, đạo đức cách
mạng cao quý nhất của giai cấp công nhân, của Đảng, của
dân tộc Việt Nam chúng ta. Tình bạn giữa Chủ tịch Hồ Chí
Minh và Bác Tôn tiêu biểu cho tình bạn chí thiết và cao cả.
Chúng ta nhớ mãi Bác Tôn, đặc biệt là đạo đức của Bác
- một người công nhân ưu tú, một người cộng sản mẫu mực,
một nhà yêu nước vĩ đại, người bạn chí thiết của Chủ tịch
Hồ Chí Minh kính yêu.
165
NHIEÀU TAÙC GIAÛ
CỐ TỔNG BÍ THƯ LÊ DUẨN NGƯỜI KẾ TỤC XUẤT SẮC
SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG
“CỨU DÂN, CỨU NƯỚC” CỦA BÁC HỒ *
Vũ Oanh1
N
hân kỷ niệm lần thứ 95 Ngày sinh của cố Tổng Bí
thư Lê Duẩn, (7-4-1907 – 7-4-2002) các thế hệ
đảng viên của Đảng đều có một cảm nghĩ chung về đồng chí
là mẫu người cộng sản kiên cường, một đồng chí đã từng giữ
chức vụ Bí thư thứ nhất, rồi Tổng Bí thư lâu nhất, dài nhất
(chính thức từ 1960 đến 1986) và ở vào giai đoạn lịch sử
* Lê Duẩn, Một nhà lãnh đạo lỗi lạc, một nhà tư duy sáng tạo lớn của cách
mạng Việt Nam. (Hồi ký) – NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002,
tr.143-149.
1. Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Trung ương Đảng.
166
Nhöõng göông chieán só caùch maïng hoïc taäp vaø laøm theo tö töôûng,...
cực kỳ oanh liệt, giai đoạn chiến tranh cách mạng bảo vệ Tổ
quốc, chống tên đế quốc đầu sỏ giàu mạnh nhất hiện nay.
Với 79 tuổi đời thì ngót 60 năm đồng chí Lê Duẩn đã
cống hiến tuổi trẻ và sức lực cho sự nghiệp cách mạng vẻ
vang nhất trong lịch sử Đảng, của dân tộc ở thế kỷ XX, sự
nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, hoàn thành trọn vẹn
cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đưa đất
nước tiến lên chủ nghĩa xã hội với vị thế là một quốc gia
thống nhất và tự chủ.
Đồng chí là một trong những đồng chí lãnh đạo cao
nhất của Đảng đã thể hiện là một người học trò trung thành,
lỗi lạc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Đồng chí Lê Duẩn
giương cao ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh với phương pháp
cách mạng của chủ nghĩa khoa học Mác - Lênin được vận
dụng trong hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam, do đó đã dẫn
dắt cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi
khác, viết nên những trang sử vàng chói lọi trong quá trình
sự nghiệp dựng nước và cứu nước của dân tộc.
- Ngay từ năm 21 tuổi (1928) đồng chí đã sớm tham
gia các tổ chức tiền thân của Đảng và sau mấy năm đã trở
thành Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ (1937); đồng chí đã bị đế quốc
thực dân kết án 20 năm tù và đày ra Côn Đảo.
- Năm 1936, nhân việc Mặt trận Bình dân Pháp lên
cầm quyền, đồng chí Lê Duẩn được trả tự do, trở về tiếp tục
lãnh đạo phong trào cách mạng, cùng một số các đồng chí
167
NHIEÀU TAÙC GIAÛ
hoạt động bán công khai (như ra báo “Dân”), do vậy đầu
năm 1940 bọn đế quốc phát xít lại bắt đồng chí, đày ra Côn
Đảo. Thời kỳ từ 1939 – 1940 đồng chí là Thường vụ Trung
ương Đảng.
- Trong những năm tháng bị đế quốc cầm tù lưu đày ở
các nhà lao Hỏa Lò, Sơn La, Côn Đảo, đồng chí đã nêu cao
khí tiết và phẩm chất chính trị, thái độ yêu nước của người
cộng sản Việt Nam. Đồng chí đã biến nhà tù của đế quốc
thành trường học của cách mạng, trau dồi bản lĩnh để khi
thoát tù trở về với nhân dân, với phong trào là đã sẵn sàng
khí thế xông vào cuộc chiến đấu sống mái với quân thù.
- Khi Cách mạng tháng Tám thành công, trở về đất
liền, đồng chí lại tiếp tục tham gia vào cuộc chiến đấu ở Nam
Bộ, gắn bó với mảnh đất miền Nam ruột thịt của Tổ quốc
trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 –
1954); đồng chí Lê Duẩn đã trở thành Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ,
tiếp theo là Bí thư Trung ương Cục miền Nam và đến năm
1957 đồng chí đã ra Bắc cùng với Trung ương Đảng chuẩn bị
những quyết sách chiến lược nhằm đảm bảo hoàn thành sự
nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Tại Đại
hội III của Đảng, năm 1960, đồng chí Lê Duẩn đã được bầu
làm Bí thư thứ nhất và từ Đại hội IV đến Đại hội V được bầu
làm Tổng Bí thư.
Đồng chí Lê Duẩn không chỉ là người giữ cương vị
Tổng Bí thư lâu nhất mà còn là người có mặt trong đội ngũ ngay
từ khi Đảng mới ra đời, và trải qua suốt cuộc trường chinh đầy
168
Nhöõng göông chieán só caùch maïng hoïc taäp vaø laøm theo tö töôûng,...
thử thách cho đến khi hoàn thành trọn vẹn cuộc giải phóng dân
tộc, thống nhất Tổ quốc. Đồng chí Lê Duẩn đảm nhận cương vị
Tổng Bí thư ở vào một thời điểm lịch sử đầy thử thách gay go và
nặng nề, cùng một lúc phải giương cao ngọn cờ cách mạng, thực
hiện hai nhiệm vụ chiến lược của toàn dân tộc: Nhiệm vụ chiến
lược thứ nhất là xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội ở miền
Bắc. Nhiệm vụ chiến lược thứ hai là đấu tranh giải phóng miền
Nam đương đầu với một cường quốc đế quốc hung bạo, phản
động và có một tiềm năng quân sự và bộ máy chiến tranh khổng
lồ. Đó là sự thách đố của lịch sử, một cuộc đối đầu lịch sử không
cân sức.
Tôi rất nhớ sau chiến thắng mùa Xuân 1975, đất nước
chúng ta từ 1975 đến 1985 là 10 năm đầy thử thách đối với
một Đảng cầm quyền mà trong đó đồng chí Tổng Bí thư Lê
Duẩn thực sự là người lãnh đạo tiêu biểu cùng với toàn thể
Ban Chấp hành Trung ương Đảng, lãnh đạo nhân dân, đất
nước chiến thắng các thế lực thù địch bao vây chống phá,
cũng như cùng một lúc trên thế giới đã xảy ra biến cố về
sự khủng hoảng trong hệ thống xã hội chủ nghĩa. Nhưng ở
Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là đồng chí
Tổng Bí thư Lê Duẩn, dân tộc ta đã đoàn kết hơn bao giờ
hết, Đảng với dân là một, “ý Đảng, lòng dân” đã được phát
huy mạnh mẽ nên dân tộc ta đã đủ sức giữ vững được nền
độc lập thống nhất, sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, vượt
qua được mọi khó khăn, từng bước khắc phục những thiếu
sót để dọn đường cho công cuộc đổi mới hôm nay.
169
NHIEÀU TAÙC GIAÛ
Nhân kỷ niệm Ngày sinh của đồng chí cố Tổng Bí thư
Lê Duẩn, người mà thân thế, sự nghiệp gắn liền với thắng
lợi lịch sử của tiến trình cách mạng Việt Nam, chúng ta càng
thấy gương chiến đấu của người cộng sản, lòng nhiệt thành
yêu nước của người cộng sản là những nhân tố quyết định
mang tính thời đại, là sức động viên mạnh mẽ đối với toàn
thể các tầng lớp nhân dân đối với Đảng quang vinh.
Đồng chí Lê Duẩn là một trong những Tổng Bí thư của
Đảng đã giương cao ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh về sức
mạnh đoàn kết toàn dân, mà Bác Hồ đã để lại trong Di chúc
là: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng
và của dân tộc ta”. Đó là chân lý:
Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công.
Chính cố Tổng Bí thư Lê Duẩn đã để lại cho toàn
Đảng, toàn dân một tác phẩm nổi tiếng: “Dưới lá cờ vẻ vang
của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành
những thắng lợi mới”.
Với công cuộc đổi mới ngày hôm nay, tác phẩm của
đồng chí đã giúp chúng ta nhận rõ tình hình, nâng cao khí
thế cách mạng, không ngừng phấn đấu trên cơ sở quán triệt,
phương châm, mục đích, nhiệm vụ của cách mạng và cũng là
sự nghiệp của đất nước là: Gắn liền độc lập dân tộc với chủ
nghĩa xã hội.
Do vậy, để tưởng nhớ đồng chí cố Tổng Bí thư Lê
170
Nhöõng göông chieán só caùch maïng hoïc taäp vaø laøm theo tö töôûng,...
Duẩn, để mãi mãi ghi sâu những lời căn dặn của đồng chí
mang tính “tổng kết của lịch sử” vào công cuộc đổi mới đất
nước, xây dựng một quốc gia giàu mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh, tôi xin trích một số điều trong tác phẩm
“Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng…” nói về “phương pháp cách
mạng”:
- Muốn đưa cách mạng đến thắng lợi, điều quan trọng
trước hết phải xác định đúng phương hướng mục tiêu chiến
lược chung cũng như phương hướng mục tiêu cụ thể cho
mỗi thời kỳ. Song, bằng con đường nào, với những hình thức
và biện pháp gì để thực hiện phương hướng và mục tiêu đã
định, vấn đề này không kém phần quan trọng so với việc
định ra bản thân phương hướng và mục tiêu. Kinh nghiệm
cho thấy phong trào cách mạng có khi dẫm chân tại chỗ,
thậm chí thất bại nữa, không phải vì thiếu phương hướng
và mục tiêu rõ ràng mà chủ yếu vì thiếu phương pháp cách
mạng thích hợp.
- Không lĩnh vực nào đòi hỏi người cách mạng phát
huy trí sáng tạo nhiều như lĩnh vực phương pháp tiến hành
cách mạng. Cách mạng là sáng tạo; không sáng tạo thì cách
mạng không thể thắng lợi. Xưa nay không có và sẽ không bao
giờ có một công thức duy nhất về cách tiến hành cách mạng
thích hợp với mọi hoàn cảnh, mọi thời gian. Một phương
thức nào đó thích hợp với nước này lại có thể không dùng
được ở nước khác, đúng trong thời kỳ này, hoàn cảnh này,
song sẽ là sai nếu đem áp dụng máy móc vào thời kỳ khác,
171
NHIEÀU TAÙC GIAÛ
hoàn cảnh khác. Tất cả vấn đề này là tùy thuộc ở những điều
kiện lịch sử cụ thể. Lênin dạy rằng: Chủ nghĩa Mác tuyệt đối
đòi hỏi phải có quan điểm lịch sử khi xét vấn đề hình thức
đấu tranh. Đặt vấn đề đó ra mà không xét đến hoàn cảnh lịch
sử cụ thể thì tức là không hiểu những điều sơ đẳng của chủ
nghĩa duy vật biện chứng.
- Trong quá trình đấu tranh, Đảng ta biết làm giàu trí
tuệ cách mạng của mình, biết không ngừng phát triển bản
lĩnh sáng tạo và nghệ thuật lãnh đạo chính trị của mình,
không chỉ bằng thường xuyên phân tích, đúc kết và nâng cao
những kinh nghiệm của bản thân cách mạng nước ta, mà
còn bằng cách học tập một cách chăm chú, cẩn thận và có
chọn lọc những kinh nghiệm cách mạng các nước trên cơ sở
tính toán đầy đủ đến những điều kiện cụ thể của cách mạng
Việt Nam.
- Điều có tính nguyên tắc là trong chính sách hàng
ngày cũng nhưng trong thực tiễn đấu tranh dù dưới bất cứ
hình thức gì và trong bất cứ điều kiện nào, người cách mạng
không bao giờ được lãng quên mục đích cuối cùng. Coi cuộc
đấu tranh vì những thắng lợi nho nhỏ hằng ngày, vì những
mục tiêu trước mắt là “tất cả”, còn “mục đích cuối cùng chỉ
là con số không”, “hy sinh tương lai của phong trào cho hiện
tại”, đó là biểu hiện của một thứ chủ nghĩa cơ hội tệ hại nhất,
kết quả chỉ có thể giam hãm quần chúng nhân dân đời đời
dưới ách nô lệ.
Cách mạng là sự nghiệp của hàng triệu quần chúng
172
Nhöõng göông chieán só caùch maïng hoïc taäp vaø laøm theo tö töôûng,...
đứng lên lật đổ các giai cấp thống trị... Do đó, cách mạng bao
giờ cũng là một quá trình lâu dài. Kể từ những mầm mống
đầu tiên cho đến khi đạt tới đích cuối cùng, cách mạng nhất
thiết phải trải qua nhiều chặng đường đấu tranh gian khổ,
phức tạp và quanh co, nhằm gạt bỏ hết trở ngại này đến trở
ngại khác, làm biến đổi dần tình hình so sánh lực lượng giữa
cách mạng và phản cách mạng, cho đến lúc tạo ra được một
ưu thế áp đảo đối với giai cấp thống trị…, đó là một quy luật
của đấu tranh cách mạng.
Đồng chí thực sự là tấm gương tiêu biểu, cho người
cộng sản Việt Nam kiên cường, bất khuất, người học trò lỗi
lạc, gần gũi và trung thành hết mực của Chủ tịch Hồ Chí
Minh vĩ đại trong sự nghiệp lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân
đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, hoàn thành trọn
vẹn công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Đồng chí thực sự là người kế tục xuất sắc sự nghiệp
cách mạng cao cả “cứu nước, cứu dân” của Bác Hồ vĩ đại.
173
NHIEÀU TAÙC GIAÛ
BÁC HỒ
VỚI ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP *
Võ Văn Tú
Đ
ại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25-8-1911,
tại làng An Xá, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
Thân sinh là cụ Võ Nguyên Thân - một nhà nho yêu nước
và giàu chí khí. Cụ bị Pháp bắt ở Huế (khoảng 1946-1947).
Chúng đánh cụ rất dã man và mắng: “Không biết dạy con,
để con chống lại quân đội Pháp”. Cụ Thân cười bảo: “Tôi đẻ
con ra, chưa kịp dạy thì nó đã bỏ nhà đi làm cách mạng. Chừ
tôi muốn dạy con thì còn mô mà dạy? Vậy tôi nhờ quân đội
Pháp hùng mạnh đi bắt giúp con tôi về đây để tôi dạy thử,
coi con tôi có chịu nghe không”. Chúng lại càng điên cuồng
tra tấn nhưng vẫn không moi được một lời khai nào, sau đó
chúng đã thủ tiêu cụ.
* Báo điện tử Bắc Ninh, ngày 22-12-2009.
174
Nhöõng göông chieán só caùch maïng hoïc taäp vaø laøm theo tö töôûng,...
Từ bé, Đại tướng đã được cụ thân sinh dạy học tại nhà
và sau đó đi học ở trường làng. Đại tướng luôn được bố mẹ
rèn cặp, hun đúc lòng yêu nước và tự hào dân tộc. Đến năm
13 tuổi, Đại tướng vào học ở trường Quốc học Huế, sau ra
Hà Nội học tiếp và đã hăng hái tham gia các hoạt động yêu
nước của sinh viên, học sinh. Năm 1929, Đại tướng tham gia
cải tổ Tân Việt Cách mạng Đảng thành Đông Dương Cộng
sản Liên đoàn, sau đó tiếp tục hoạt động trên lĩnh vực văn
hóa - giáo dục, làm thầy giáo dạy lịch sử tại Trường Tư thục
Thăng Long và có nhiều bài viết cho các tờ báo ra công khai
lúc bấy giờ như Tin Tức, Nhân Dân, Lao Động. Giai đoạn
1936-1939, Đại tướng là một trong những người sáng lập
Mặt trận Dân chủ Đông Dương và có nhiều hoạt động nổi
bật về vấn đề đấu tranh đòi ruộng đất cho nông dân. Sau
thời kỳ này, Đại tướng đã ra nước ngoài, hoạt động trong
phong trào hải ngoại ở Trung Quốc.
Tháng 6-1940, Đại tướng được gặp Bác Hồ lần đầu tiên
ở Thúy Hồ (Trung Quốc). Được sự dìu dắt của Bác, ngay
trong năm 1940, Đại tướng được kết nạp vào Đảng Cộng
sản Đông Dương. Từ năm 1941, Đại tướng trở về nước hoạt
động, tích cực tham gia thành lập Mặt trận Việt Minh và
được giao phụ trách Ban Xung phong Nam tiến.
Cuối năm 1944, Bác Hồ tin tưởng giao cho Đại tướng
chọn lựa những cán bộ, chiến sĩ anh dũng nhất với những
vũ khí tốt nhất, lập thành một đội vũ trang mang tên là “Đội
Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân”. Bác đã nói: Việc
175
NHIEÀU TAÙC GIAÛ
quân sự thì giao cho chú Văn (Văn là bí danh của Đại tướng).
Sau một thời gian chuẩn bị, Đội Việt Nam Tuyên truyền
Giải phóng quân được thành lập vào ngày 22-12-1944, tại
một khu rừng ở châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Sau này,
khu rừng ấy được đặt tên là khu rừng Trần Hưng Đạo, còn
Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân chính là tiền
thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trước khi thành
lập, Bác nói với Đại tướng là trong vòng một tháng phải có
hoạt động. Điều kỳ diệu là chỉ hai hôm sau, vào ngày 24 và
25-12-1944, Đội đã liên tiếp đánh thắng hai trận vang dội,
diệt gọn hai đồn Phai Khắt và Nà Ngần của địch.
Trong những ngày cả nước sục sôi khí thế cách mạng,
khi chiến tranh thế giới lần thứ II đã dần ngã ngũ với thắng
lợi thuộc về phe đồng minh thì ở căn cứ Việt Bắc, Bác bị ốm
rất nặng. Lúc này, cán bộ Trung ương ở bên cạnh Bác chỉ có
Đại tướng. Bác sốt liên tục, hễ tỉnh lại lúc nào là nói chuyện
tình hình và nhiệm vụ cách mạng như có ý dặn lại mọi việc
với Đại tướng. Trong những điều Bác dặn dò ấy, có một câu
nói đã mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc: “Lúc này, thời cơ thuận
lợi đã tới, dù hy sinh đến đâu, dù có phải đốt cháy cả dãy
Trường Sơn cũng kiên quyết giành cho được độc lập!”.
Cách mạng tháng Tám vừa thành công thì thù trong
giặc ngoài ráo riết chống phá, hòng bóp chết Nhà nước Cộng
hòa non trẻ. Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo ra sức chèo lái
vận mệnh sơn hà và đã phải nhân nhượng với kẻ thù nhiều
điều nhằm kéo dài thời gian hòa hoãn, chuẩn bị cho công
176
Nhöõng göông chieán só caùch maïng hoïc taäp vaø laøm theo tö töôûng,...
cuộc kháng chiến. Song những nhân nhượng ấy cũng có một
số cán bộ chưa đồng tình. Để thông suốt chủ trương, trong
một cuộc họp, Bác đã hỏi: “Mình đứng đây, cái bục ở đây Bác chỉ vào cái bục ở ngay trước ngực - Mình có thể nhảy
qua cái bục này được không?”. Mọi người ngạc nhiên, chưa
biết Bác định nói gì, thì Bác chỉ tay vào Đại tướng: “Chú
Giáp! Chú là người giỏi văn, giỏi võ, chú thấy có thể nhảy
qua được không?”. Đại tướng từ tốn trả lời: “Thưa Bác! Có
thể nhảy qua được với một điều kiện”. Bác hỏi tiếp: “Điều
kiện gì?”. Đại tướng bình tĩnh đáp: “Thưa Bác! Mình phải
lùi lại một khoảng để lấy đà”. Bác liền khen: “Chú nói đúng!
Chúng ta nhân nhượng với giặc chính là đang lùi lại để lấy
đà đấy!”.
Đến một cuộc họp Hội đồng Chính phủ sau đó, Bác
Hồ hỏi Đại tướng: “Nếu địch mở rộng chiến tranh trên miền
Bắc, Hà Nội có thể giữ được bao lâu?”, Đại tướng trả lời:
“Thưa Bác! Có thể giữ được một tháng”. Bác lại hỏi: “Các
thành phố khác thì sao?”, Đại tướng trả lời: “Các thành phố
khác thì ít khó khăn hơn”. Bác hỏi tiếp: “Còn vùng nông
thôn?”, Đại tướng trả lời: “Vùng nông thôn ta nhất định
giữ được”. Sự trả lời vững vàng của Đại tướng làm cho Bác
nhanh chóng quyết định “Ta lại trở về Tân Trào”, chọn căn
cứ địa Việt Bắc làm Thủ đô kháng chiến. (Thực tế khi cuộc
kháng chiến chống Pháp bùng nổ, chúng ta đã giữ được Hà
Nội hơn 2 tháng).
Xuân Mậu Tý 1948, tại chiến khu Việt Bắc, Bác Hồ
177
NHIEÀU TAÙC GIAÛ
đã ra một vế đối: “Giáp phải giải pháp”, ý nói Đại tướng Võ
Nguyên Giáp phải chỉ huy quân đội đánh thắng giặc Pháp,
nhưng vế đối khó ở chỗ 2 chữ Giáp phải khi nói lái sẽ trở
thành giải pháp. Mọi người còn đang đăm chiêu suy nghĩ
thì ông Tôn Quang Phiệt đứng lên xin đối là: “Hiến tài hái
tiền”. Hiến chỉ Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến và Hiến
tài nói lái sẽ trở thành hái tiền. Thật là hay! Vế xướng nói về
kháng chiến, vế đối nói về kiến quốc, chính là hai nhiệm vụ
chiến lược của cách mạng nước ta trong thời kỳ này.
Cuối năm 1953, Đại tướng được giao nhiệm vụ ra mặt
trận làm Tổng Tư lệnh kiêm Chính ủy Bộ Chỉ huy Chiến
dịch Điện Biên Phủ. Trước khi Đại tướng lên đường, Bác Hồ
đã căn dặn: “Chú ra mặt trận, tướng quân tại ngoại, có toàn
quyền quyết định. Trận này rất quan trọng. Các chú nhất
định phải thắng. Chắc thắng thì đánh. Không chắc thắng,
không đánh”. Nhớ lời căn dặn của Bác, khi đến Điện Biên
Phủ, trực tiếp theo dõi tình hình địch suốt 11 ngày đêm, thấy
địch đã xây dựng hệ thống phòng thủ kiên cố, Đại tướng xét
thấy phương châm “đánh nhanh, giải quyết nhanh” không
bảo đảm chắc thắng. Từ đó, Đại tướng đã quyết định thay
đổi phương châm từ đánh nhanh, giải quyết nhanh thành
đánh chắc, tiến chắc. Thực tế đã chứng minh sự thay đổi ấy
là một yếu tố cực kỳ quan trọng để làm nên Chiến thắng lịch
sử Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu và
Bác Hồ đã gọi đó là “cây cột mốc bằng vàng”.
Những chiến công của quân đội ta trong hai cuộc
178
Nhöõng göông chieán só caùch maïng hoïc taäp vaø laøm theo tö töôûng,...
kháng chiến chống Pháp và Mỹ luôn gắn liền với tên tuổi
của Đại tướng. Là một vị tướng lừng danh thế giới, nhưng
Đại tướng luôn coi mình là người học trò của Chủ tịch Hồ
Chí Minh. Hiện nay, Đại tướng là Chủ tịch danh dự Hội Cựu
chiến binh Việt Nam. Đại tướng thường kể lại với mọi người
về những ấn tượng sâu sắc trong lần đầu tiên được gặp Bác
Hồ: “Ngay từ đầu, tôi đã cảm thấy như mình được ở rất gần
Bác, được quen biết Bác từ lâu rồi! Ở Bác toát ra một cái gì
đó rất trong sáng, gần gũi. Một điều làm tôi hết sức cảm phục
là khi nói chuyện với tôi, Bác nói rất nhiều tiếng địa phương.
Tôi không ngờ một người xa đất nước lâu năm như Bác mà
vẫn giữ được nguyên vẹn tiếng nói của quê hương...”.
179
NHIEÀU TAÙC GIAÛ
ĐỒNG CHÍ PHẠM VĂN ĐỒNG *
Đ
ồng chí Phạm Văn Đồng là một trong những cán
bộ lớp tiền bối của Đảng và cách mạng Việt Nam,
người học trò gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. 94 tuổi, 75
năm hoạt động cách mạng liên tục, từ thời dựng Đảng đến
thời kỳ đổi mới, dấu ấn hoạt động của đồng chí in đậm trên
cả ba miền Bắc - Trung - Nam và nhiều nơi trên thế giới. Trải
qua thử thách 7 năm trong lao tù thực dân đế quốc, bị mật
thám, cảnh sát rình rập, săn đuổi khi hoạt động bí mật, chiến
tranh ác liệt gian khổ và thiếu thốn…, nhưng đồng chí vẫn
một lòng kiên trung với Đảng, với cách mạng, phấn đấu vì
Đảng, vì dân cho đến những ngày cuối cùng của đời mình.
Được Đảng và Nhà nước tin cậy giao phó nhiều trọng
trách: 41 năm là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
* Tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị - Hành chính,
Hà Nội, 2009, tr.245-258.
180
Nhöõng göông chieán só caùch maïng hoïc taäp vaø laøm theo tö töôûng,...
35 năm là Ủy viên Bộ Chính trị, 32 năm là Thủ tướng Chính
phủ, 10 năm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương, đồng chí
là “người cộng sản kiên cường, mẫu mực; nhà lãnh đạo có uy
tín của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, người con rất mực
trung thành, suốt đời chiến đấu vì độc lập dân tộc, vì chủ
nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân”.
Suốt cuộc đời hoạt động, trong bất cứ hoàn cảnh nào
đồng chí Phạm Văn Đồng luôn tin tưởng vào thắng lợi của
cách mạng, tương lai của đất nước, mang hết nhiệt tình, tài
năng và trí tuệ cống hiến cho sự nghiệp đấu tranh vì độc lập
tự do, vì chủ nghĩa xã hội. Với trọng trách của mình, đồng
chí Phạm Văn Đồng hết sức quan tâm tới công tác củng cố
bộ máy chính quyền Nhà nước. Đồng chí thường nói: “Việc
tăng cường Nhà nước dân chủ nhân dân là một nhiệm vụ cơ
bản của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa”.
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của
dân, do dân và vì dân, Phạm Văn Đồng nhấn mạnh rằng:
“Nguyên tắc tổ chức của Nhà nước chúng ta là nguyên tắc
tập trung dân chủ. Dân chủ và tập trung là hai mặt không thể
thiếu và phải mật thiết liên quan với nhau, kết hợp chặt chẽ
với nhau của tổ chức Nhà nước chúng ta”.
Nhận thức rõ Đảng ta là đảng cầm quyền, Phạm Văn
Đồng yêu cầu đảng viên là cán bộ chính quyền các cấp phải
“quan niệm cho đúng quan hệ lãnh đạo của Đảng đối với
Nhà nước và mọi ngành hoạt động của Nhà nước”. “Chỉ có
tăng cường quan hệ lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước thì
181
NHIEÀU TAÙC GIAÛ
chúng ta mới tăng cường được tác dụng to lớn của Nhà nước
trong thời kỳ quá độ, trong việc xây dựng xã hội mới, đời
sống mới, do đó mà nêu cao địa vị và uy tín của Nhà nước”.
Trong việc lãnh đạo kinh tế, đồng chí Phạm Văn Đồng
luôn đòi hỏi mọi cán bộ phải làm việc thật sự hiệu quả, có
năng suất và chất lượng cao, phải thực hành tiết kiệm, chống
tham ô, lãng phí, quan liêu. Đồng chí nhấn mạnh: “Muốn
quản lý tốt, cần quy định rõ ràng chính sách, chế độ, thể lệ,
định mức về các việc điều động, phân phối và sử dụng tiền
bạc, máy móc, đất đai, vật tư và nhân lực cho mọi ngành, mọi
cấp, mọi địa phương, phải coi đó là kỷ luật của Nhà nước, ai
làm sai có lỗi, người phụ trách phải thường xuyên kiểm tra và
xử lý kịp thời, đúng mức những vụ sai trái”.
Đồng chí là một người lãnh đạo có uy tín lớn, được
cử giữ nhiều trọng trách trong các cơ quan lãnh đạo cấp cao
của Đảng và Nhà nước Việt Nam: Trong suốt quá trình đó,
đồng chí Phạm Văn Đồng luôn nghiên cứu lý luận, gắn lý
luận với thực tiễn cách mạng nhằm xây dựng tiền đề và từng
bước hoàn thiện chính quyền của dân, do dân và vì dân,
xứng đáng với những giá trị tinh thần và lý tưởng mà đồng
chí hằng ấp ủ và theo đuổi.
Trước đây, với cương vị là người đứng đầu Chính phủ,
đồng chí Phạm Văn Đồng vui mừng trước những thành quả
mà nhân dân ta đã đạt được trong xây dựng kinh tế, nhưng
rất trăn trở trước những yếu kém, những khuyết điểm trong
lãnh đạo, quản lý vĩ mô.
182
Nhöõng göông chieán só caùch maïng hoïc taäp vaø laøm theo tö töôûng,...
Ngày 6-7-1987, Hội đồng Bộ trưởng họp thường kỳ
để kiểm điểm tình hình công tác 6 tháng đầu năm theo tinh
thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI. Đây là phiên họp
cuối cùng do đồng chí Phạm Văn Đồng chủ trì trên cương
vị Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Phát biểu tại cuộc họp, với
tinh thần trách nhiệm cao trước những khó khăn, yếu kém
trong công tác quản lý, điều hành các lĩnh vực kinh tế - xã hội,
đồng chí nói: “Cần nói ngay về tính hiệu quả của Hội đồng
Bộ trưởng, mà chủ yếu là hiệu quả công tác của đồng chí
Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Nếu chúng ta không suy nghĩ
ngày đêm để phấn đấu cho nền kinh tế - xã hội có chuyển
biến, có những bước phát triển để đời sống của nhân dân tốt
hơn, đỡ khổ hơn, nếu chúng ta không làm như vậy, tôi nghĩ
là chúng ta không xứng đáng”.
Là một trong những nhà lãnh đạo chủ chốt của Đảng
và Nhà nước, đồng chí Phạm Văn Đồng rất quan tâm đến
công tác giáo dục, bồi dưỡng và rèn luyện đội ngũ cán bộ,
đảng viên. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác
cán bộ, đồng chí cho rằng, Đảng phải chăm sóc cán bộ, đảng
viên như người làm vườn, “vừa vun xới cho cây, cho hoa,
vừa phải nhổ cỏ trừ sâu, và nhổ cỏ tận gốc, diệt sâu phải
diệt từ trứng. Có như thế hoa mới càng đẹp, quả mới càng
ngon”. Đồng chí rất đau lòng khi tệ quan liêu, tham nhũng,
ăn cắp phát triển và trở thành quốc nạn. Từ đáy lòng mình,
đồng chí nói những lời tâm huyết: “…tôi nghĩ rằng cái nhà
của chúng ta hiện nay đang nhiều rác rưởi và dơ bẩn, làm
183
NHIEÀU TAÙC GIAÛ
cho quần chúng nhân dân phẫn nộ một cách chính đáng.
Trong tình hình như vậy, việc chúng ta phải đặt lên hàng đầu
công tác quét cái nhà của chúng ta, quét mọi rác rưởi và dơ
bẩn, làm cho nó ngày càng sạch sẽ, có như vậy chúng ta mới
có môi trường và cơ hội thuận lợi để làm tốt các công tác
khác…”. Ý thức trách nhiệm và những quan điểm chỉ đạo
của đồng chí Phạm Văn Đồng là rất xác đáng và có ý nghĩa
thời sự to lớn trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Phạm Văn Đồng - Tấm gương đạo đức cách
mạng trong sáng
Là một học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
đồng chí Phạm Văn Đồng là một tấm gương rèn luyện đạo
đức cách mạng, suốt đời cống hiến, hy sinh cho cách mạng,
tận trung với Đảng, với nước, tận hiếu với dân.
Đồng chí Phạm Văn Đồng là người luôn có tình cảm
chân thành với đồng chí, bạn bè. Đồng chí là người rất kính
trọng những người bạn chiến đấu cùng thời. Vào những dịp
kỷ niệm trọng thể - ngày sinh hay ngày mất của cán bộ tiền
bối như Tổng Bí thư Lê D...
Phaàn II
NHÖÕNG GÖÔNG CHIEÁN SÓ
CAÙCH MAÏNG HOÏC TAÄP
VAØ LAØM THEO TÖ TÖÔÛNG,
TAÁM GÖÔNG ÑAÏO ÑÖÙC,
PHONG CAÙCH HOÀ CHÍ MINH
159
NHIEÀU TAÙC GIAÛ
160
Nhöõng göông chieán só caùch maïng hoïc taäp vaø laøm theo tö töôûng,...
BÁC TÔN - NHÀ CÁCH MẠNG BẤT TỬ *
B
ác Tôn Đức Thắng, sinh ngày 20-8-1888 trong
một gia đình nông dân nghèo tại làng Mỹ Hòa
Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang mất lúc 6 giờ
35 phút, ngày 30-3-1980 tại Hà Nội, hưởng thọ 92 tuổi.
Bác Tôn là một trong những chiến sĩ cách mạng lớp
đầu tiên của phong trào công nhân và phong trào giải phóng
dân tộc ở nước ta, là người bạn chiến đấu thân thiết của Chủ
tịch Hồ Chí Minh.
Hiến dâng cả cuộc đời cho độc lập tự do của dân tộc và
cho lý tưởng cộng sản chủ nghĩa - Bác Tôn Đức Thắng là một
hình ảnh sáng ngời của tinh thần cách mạng bất khuất và
đạo đức cách mạng trong sáng. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí
* Tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị - Hành chính,
Hà Nội, 2009, tr.236.
161
NHIEÀU TAÙC GIAÛ
Minh đã nói: Đồng chí Tôn Đức Thắng là một gương mẫu
đạo đức cách mạng, suốt đời cần kiệm liêm chính, suốt đời
hết lòng hết sức phụ vụ cách mạng, phục vụ nhân dân.
Gần 70 năm đấu tranh không mệt mỏi cho sự nghiệp
cứu nước, giải phóng dân tộc, gần 17 năm bị đế quốc thực
dân bắt giam ở Khám lớn Sài Gòn và địa ngục trần gian Côn
Đảo, Bác đã tỏ rõ lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng.
Trước sự khủng bố tàn bạo của quân thù, với biết bao cực
hình, tra tấn dã man, khi thì nhốt vào hầm xay lúa, khi thì
nhốt vào hầm tối tay chân bị xiềng xích còng kỵ, khi thì cho
ăn lúa sống hoặc bỏ đói, bỏ khát… Song, Bác Tôn luôn nêu
cao tinh thần cách mạng kiên cường, tin tưởng vững chắc
vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.
Sau Cách mạng tháng Tám, từ Côn Đảo trở về. Vừa đặt
chân lên đất liền, Bác lại tham gia hoạt động cách mạng ngay.
Góp phần cùng với Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ
và Mặt trận lãnh đạo nhân dân tiến hành đấu tranh cách
mạng để giải phóng và xây dựng đất nước…
Sau ngày cách mạng thành công, Bác Tôn được Đảng
phân công đảm nhiệm nhiều cương vị, trọng trách khác
nhau. Nhưng dù ở bất kỳ cương vị công tác nào Bác cũng
luôn luôn phấn đấu hết sức mình để hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ mà Đảng, Chính phủ và nhân dân giao phó.
Trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày, Bác Tôn là
con người vô cùng giản dị, vẫn là người công nhân, vẫn giữ
162
Nhöõng göông chieán só caùch maïng hoïc taäp vaø laøm theo tö töôûng,...
cái kìm, cái búa… và tự sửa lấy xe đạp cho mình… Bác Tôn
của chúng ta là con người như thế. Tinh túy của phẩm chất
ấy chính là lòng yêu nước thương dân, niềm tin sắt đá vào
thắng lợi của cách mạng. Kiên trung, khiêm tốn và giản dị
chân thành, hòa mình trong quần chúng là đức tính xuyên
suốt cuộc đời của Bác Tôn.
Bác Tôn Đức Thắng - một con người bình thường
nhưng vô cùng cao quý. Tấm gương về đạo đức cách mạng
cần kiệm, liêm chính, hết lòng hết sức phụng sự cách mạng,
phục vụ nhân dân của Bác mãi mãi để cho mọi thế hệ Việt
Nam học tập và noi theo.
Một con người rất ưu tú của Tổ quốc*
“Một chiến sĩ cách mạng của dân tộc và chiến sĩ cách
mạng thế giới” là đánh giá về Bác Tôn Đức Thắng trong
lời phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Lễ trao Huân
chương Sao vàng - Huân chương cao quý nhất của Nhà nước
ta tặng Bác Tôn và Bác cũng là người đầu tiên ở nước ta được
nhận Huân chương cao quý đó,
Chủ tịch Tôn Đức Thắng là một chiến sĩ lớp đầu của
phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc của
nước ta, là người bạn chiến đấu thân thiết lâu năm của Hồ
* Tôn Đức Thắng - Người cộng sản mẫu mực, biểu tượng của đại đoàn kết,
Nxb. Chính trị quốc gia, H.2003, tr.30-31.
163
NHIEÀU TAÙC GIAÛ
Chủ tịch. Bác là một trong những người công nhân Việt
Nam đầu tiên hoạt động trong phong trào công nhân Pháp,
tham gia cuộc nổi dậy của hải quân Pháp ở Biển Đen, kéo là
cờ đỏ trên chiến hạm Pháp ủng hộ nước Nga Xôviết, Nhà
nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, là người xây
dựng Công hội đỏ, tiền thân của Tổng Liên đoàn lao động
Việt Nam ngày nay.
Cuộc đời hoạt động của Bác Tôn là cuộc chiến đấu
đầy gian lao, thử thách. Gần 17 năm bị thực dân bắt giam ở
Khám lớn Sài Gòn và địa ngục Côn Đảo, Bác luôn nêu cao
tinh thần cách mạng kiên cường, tin tưởng vững chắc vào
thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã
hội; nêu tấm gương sáng dẫn dắt nhiều đồng chí vững bước
tiến lên trước những thử thách, cam go của đấu tranh cách
mạng.
Kiên trung, khiêm tốn, giản dị là đức tính suốt đời của
Bác Tôn, từ khi là người chiến sĩ cộng sản bình thường cho
tới lúc giữ những trọng trách cao nhất của Nhà nước; những
đồng chí đã ở tù với Bác suốt 17 năm và làm việc với Bác hơn
30 năm đều thấy ở Bác một tấm gương “suốt đời cần kiệm,
liêm chính; suốt đời hết lòng phục vụ cách mạng, phục vu
nhân dân” như lời phát biểu của Bác Hồ.
Bác Tôn đã sống trọn một đời cao đẹp của người chiến
sĩ cộng sản. Cống hiến vô giá của Bác là nêu lên cho thế hệ
những người cách mạng nước ta, cho chúng tôi và lớp trẻ
164
Nhöõng göông chieán só caùch maïng hoïc taäp vaø laøm theo tö töôûng,...
chúng ta tấm gương chiến đấu hy sinh và đạo đức trong sáng
của một người cộng sản vì Tổ quốc, vì nhân dân.
Tôi cũng thường đến thăm Bác Tôn ở nhà riêng. Cảm
tưởng để lại cho tôi trong những dịp đó là vô cùng xúc động.
Bác Tôn là con người vô cùng giản dị, vẫn là người công
nhân, vẫn giữ cái búa, cái kìm… và tự chữa lấy xe đạp của
mình. Bác Tôn của chúng ta là một con người như thế, một
con người tiêu biểu cho tinh thần cách mạng, đạo đức cách
mạng cao quý nhất của giai cấp công nhân, của Đảng, của
dân tộc Việt Nam chúng ta. Tình bạn giữa Chủ tịch Hồ Chí
Minh và Bác Tôn tiêu biểu cho tình bạn chí thiết và cao cả.
Chúng ta nhớ mãi Bác Tôn, đặc biệt là đạo đức của Bác
- một người công nhân ưu tú, một người cộng sản mẫu mực,
một nhà yêu nước vĩ đại, người bạn chí thiết của Chủ tịch
Hồ Chí Minh kính yêu.
165
NHIEÀU TAÙC GIAÛ
CỐ TỔNG BÍ THƯ LÊ DUẨN NGƯỜI KẾ TỤC XUẤT SẮC
SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG
“CỨU DÂN, CỨU NƯỚC” CỦA BÁC HỒ *
Vũ Oanh1
N
hân kỷ niệm lần thứ 95 Ngày sinh của cố Tổng Bí
thư Lê Duẩn, (7-4-1907 – 7-4-2002) các thế hệ
đảng viên của Đảng đều có một cảm nghĩ chung về đồng chí
là mẫu người cộng sản kiên cường, một đồng chí đã từng giữ
chức vụ Bí thư thứ nhất, rồi Tổng Bí thư lâu nhất, dài nhất
(chính thức từ 1960 đến 1986) và ở vào giai đoạn lịch sử
* Lê Duẩn, Một nhà lãnh đạo lỗi lạc, một nhà tư duy sáng tạo lớn của cách
mạng Việt Nam. (Hồi ký) – NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002,
tr.143-149.
1. Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Trung ương Đảng.
166
Nhöõng göông chieán só caùch maïng hoïc taäp vaø laøm theo tö töôûng,...
cực kỳ oanh liệt, giai đoạn chiến tranh cách mạng bảo vệ Tổ
quốc, chống tên đế quốc đầu sỏ giàu mạnh nhất hiện nay.
Với 79 tuổi đời thì ngót 60 năm đồng chí Lê Duẩn đã
cống hiến tuổi trẻ và sức lực cho sự nghiệp cách mạng vẻ
vang nhất trong lịch sử Đảng, của dân tộc ở thế kỷ XX, sự
nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, hoàn thành trọn vẹn
cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đưa đất
nước tiến lên chủ nghĩa xã hội với vị thế là một quốc gia
thống nhất và tự chủ.
Đồng chí là một trong những đồng chí lãnh đạo cao
nhất của Đảng đã thể hiện là một người học trò trung thành,
lỗi lạc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Đồng chí Lê Duẩn
giương cao ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh với phương pháp
cách mạng của chủ nghĩa khoa học Mác - Lênin được vận
dụng trong hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam, do đó đã dẫn
dắt cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi
khác, viết nên những trang sử vàng chói lọi trong quá trình
sự nghiệp dựng nước và cứu nước của dân tộc.
- Ngay từ năm 21 tuổi (1928) đồng chí đã sớm tham
gia các tổ chức tiền thân của Đảng và sau mấy năm đã trở
thành Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ (1937); đồng chí đã bị đế quốc
thực dân kết án 20 năm tù và đày ra Côn Đảo.
- Năm 1936, nhân việc Mặt trận Bình dân Pháp lên
cầm quyền, đồng chí Lê Duẩn được trả tự do, trở về tiếp tục
lãnh đạo phong trào cách mạng, cùng một số các đồng chí
167
NHIEÀU TAÙC GIAÛ
hoạt động bán công khai (như ra báo “Dân”), do vậy đầu
năm 1940 bọn đế quốc phát xít lại bắt đồng chí, đày ra Côn
Đảo. Thời kỳ từ 1939 – 1940 đồng chí là Thường vụ Trung
ương Đảng.
- Trong những năm tháng bị đế quốc cầm tù lưu đày ở
các nhà lao Hỏa Lò, Sơn La, Côn Đảo, đồng chí đã nêu cao
khí tiết và phẩm chất chính trị, thái độ yêu nước của người
cộng sản Việt Nam. Đồng chí đã biến nhà tù của đế quốc
thành trường học của cách mạng, trau dồi bản lĩnh để khi
thoát tù trở về với nhân dân, với phong trào là đã sẵn sàng
khí thế xông vào cuộc chiến đấu sống mái với quân thù.
- Khi Cách mạng tháng Tám thành công, trở về đất
liền, đồng chí lại tiếp tục tham gia vào cuộc chiến đấu ở Nam
Bộ, gắn bó với mảnh đất miền Nam ruột thịt của Tổ quốc
trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 –
1954); đồng chí Lê Duẩn đã trở thành Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ,
tiếp theo là Bí thư Trung ương Cục miền Nam và đến năm
1957 đồng chí đã ra Bắc cùng với Trung ương Đảng chuẩn bị
những quyết sách chiến lược nhằm đảm bảo hoàn thành sự
nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Tại Đại
hội III của Đảng, năm 1960, đồng chí Lê Duẩn đã được bầu
làm Bí thư thứ nhất và từ Đại hội IV đến Đại hội V được bầu
làm Tổng Bí thư.
Đồng chí Lê Duẩn không chỉ là người giữ cương vị
Tổng Bí thư lâu nhất mà còn là người có mặt trong đội ngũ ngay
từ khi Đảng mới ra đời, và trải qua suốt cuộc trường chinh đầy
168
Nhöõng göông chieán só caùch maïng hoïc taäp vaø laøm theo tö töôûng,...
thử thách cho đến khi hoàn thành trọn vẹn cuộc giải phóng dân
tộc, thống nhất Tổ quốc. Đồng chí Lê Duẩn đảm nhận cương vị
Tổng Bí thư ở vào một thời điểm lịch sử đầy thử thách gay go và
nặng nề, cùng một lúc phải giương cao ngọn cờ cách mạng, thực
hiện hai nhiệm vụ chiến lược của toàn dân tộc: Nhiệm vụ chiến
lược thứ nhất là xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội ở miền
Bắc. Nhiệm vụ chiến lược thứ hai là đấu tranh giải phóng miền
Nam đương đầu với một cường quốc đế quốc hung bạo, phản
động và có một tiềm năng quân sự và bộ máy chiến tranh khổng
lồ. Đó là sự thách đố của lịch sử, một cuộc đối đầu lịch sử không
cân sức.
Tôi rất nhớ sau chiến thắng mùa Xuân 1975, đất nước
chúng ta từ 1975 đến 1985 là 10 năm đầy thử thách đối với
một Đảng cầm quyền mà trong đó đồng chí Tổng Bí thư Lê
Duẩn thực sự là người lãnh đạo tiêu biểu cùng với toàn thể
Ban Chấp hành Trung ương Đảng, lãnh đạo nhân dân, đất
nước chiến thắng các thế lực thù địch bao vây chống phá,
cũng như cùng một lúc trên thế giới đã xảy ra biến cố về
sự khủng hoảng trong hệ thống xã hội chủ nghĩa. Nhưng ở
Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là đồng chí
Tổng Bí thư Lê Duẩn, dân tộc ta đã đoàn kết hơn bao giờ
hết, Đảng với dân là một, “ý Đảng, lòng dân” đã được phát
huy mạnh mẽ nên dân tộc ta đã đủ sức giữ vững được nền
độc lập thống nhất, sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, vượt
qua được mọi khó khăn, từng bước khắc phục những thiếu
sót để dọn đường cho công cuộc đổi mới hôm nay.
169
NHIEÀU TAÙC GIAÛ
Nhân kỷ niệm Ngày sinh của đồng chí cố Tổng Bí thư
Lê Duẩn, người mà thân thế, sự nghiệp gắn liền với thắng
lợi lịch sử của tiến trình cách mạng Việt Nam, chúng ta càng
thấy gương chiến đấu của người cộng sản, lòng nhiệt thành
yêu nước của người cộng sản là những nhân tố quyết định
mang tính thời đại, là sức động viên mạnh mẽ đối với toàn
thể các tầng lớp nhân dân đối với Đảng quang vinh.
Đồng chí Lê Duẩn là một trong những Tổng Bí thư của
Đảng đã giương cao ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh về sức
mạnh đoàn kết toàn dân, mà Bác Hồ đã để lại trong Di chúc
là: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng
và của dân tộc ta”. Đó là chân lý:
Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công.
Chính cố Tổng Bí thư Lê Duẩn đã để lại cho toàn
Đảng, toàn dân một tác phẩm nổi tiếng: “Dưới lá cờ vẻ vang
của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành
những thắng lợi mới”.
Với công cuộc đổi mới ngày hôm nay, tác phẩm của
đồng chí đã giúp chúng ta nhận rõ tình hình, nâng cao khí
thế cách mạng, không ngừng phấn đấu trên cơ sở quán triệt,
phương châm, mục đích, nhiệm vụ của cách mạng và cũng là
sự nghiệp của đất nước là: Gắn liền độc lập dân tộc với chủ
nghĩa xã hội.
Do vậy, để tưởng nhớ đồng chí cố Tổng Bí thư Lê
170
Nhöõng göông chieán só caùch maïng hoïc taäp vaø laøm theo tö töôûng,...
Duẩn, để mãi mãi ghi sâu những lời căn dặn của đồng chí
mang tính “tổng kết của lịch sử” vào công cuộc đổi mới đất
nước, xây dựng một quốc gia giàu mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh, tôi xin trích một số điều trong tác phẩm
“Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng…” nói về “phương pháp cách
mạng”:
- Muốn đưa cách mạng đến thắng lợi, điều quan trọng
trước hết phải xác định đúng phương hướng mục tiêu chiến
lược chung cũng như phương hướng mục tiêu cụ thể cho
mỗi thời kỳ. Song, bằng con đường nào, với những hình thức
và biện pháp gì để thực hiện phương hướng và mục tiêu đã
định, vấn đề này không kém phần quan trọng so với việc
định ra bản thân phương hướng và mục tiêu. Kinh nghiệm
cho thấy phong trào cách mạng có khi dẫm chân tại chỗ,
thậm chí thất bại nữa, không phải vì thiếu phương hướng
và mục tiêu rõ ràng mà chủ yếu vì thiếu phương pháp cách
mạng thích hợp.
- Không lĩnh vực nào đòi hỏi người cách mạng phát
huy trí sáng tạo nhiều như lĩnh vực phương pháp tiến hành
cách mạng. Cách mạng là sáng tạo; không sáng tạo thì cách
mạng không thể thắng lợi. Xưa nay không có và sẽ không bao
giờ có một công thức duy nhất về cách tiến hành cách mạng
thích hợp với mọi hoàn cảnh, mọi thời gian. Một phương
thức nào đó thích hợp với nước này lại có thể không dùng
được ở nước khác, đúng trong thời kỳ này, hoàn cảnh này,
song sẽ là sai nếu đem áp dụng máy móc vào thời kỳ khác,
171
NHIEÀU TAÙC GIAÛ
hoàn cảnh khác. Tất cả vấn đề này là tùy thuộc ở những điều
kiện lịch sử cụ thể. Lênin dạy rằng: Chủ nghĩa Mác tuyệt đối
đòi hỏi phải có quan điểm lịch sử khi xét vấn đề hình thức
đấu tranh. Đặt vấn đề đó ra mà không xét đến hoàn cảnh lịch
sử cụ thể thì tức là không hiểu những điều sơ đẳng của chủ
nghĩa duy vật biện chứng.
- Trong quá trình đấu tranh, Đảng ta biết làm giàu trí
tuệ cách mạng của mình, biết không ngừng phát triển bản
lĩnh sáng tạo và nghệ thuật lãnh đạo chính trị của mình,
không chỉ bằng thường xuyên phân tích, đúc kết và nâng cao
những kinh nghiệm của bản thân cách mạng nước ta, mà
còn bằng cách học tập một cách chăm chú, cẩn thận và có
chọn lọc những kinh nghiệm cách mạng các nước trên cơ sở
tính toán đầy đủ đến những điều kiện cụ thể của cách mạng
Việt Nam.
- Điều có tính nguyên tắc là trong chính sách hàng
ngày cũng nhưng trong thực tiễn đấu tranh dù dưới bất cứ
hình thức gì và trong bất cứ điều kiện nào, người cách mạng
không bao giờ được lãng quên mục đích cuối cùng. Coi cuộc
đấu tranh vì những thắng lợi nho nhỏ hằng ngày, vì những
mục tiêu trước mắt là “tất cả”, còn “mục đích cuối cùng chỉ
là con số không”, “hy sinh tương lai của phong trào cho hiện
tại”, đó là biểu hiện của một thứ chủ nghĩa cơ hội tệ hại nhất,
kết quả chỉ có thể giam hãm quần chúng nhân dân đời đời
dưới ách nô lệ.
Cách mạng là sự nghiệp của hàng triệu quần chúng
172
Nhöõng göông chieán só caùch maïng hoïc taäp vaø laøm theo tö töôûng,...
đứng lên lật đổ các giai cấp thống trị... Do đó, cách mạng bao
giờ cũng là một quá trình lâu dài. Kể từ những mầm mống
đầu tiên cho đến khi đạt tới đích cuối cùng, cách mạng nhất
thiết phải trải qua nhiều chặng đường đấu tranh gian khổ,
phức tạp và quanh co, nhằm gạt bỏ hết trở ngại này đến trở
ngại khác, làm biến đổi dần tình hình so sánh lực lượng giữa
cách mạng và phản cách mạng, cho đến lúc tạo ra được một
ưu thế áp đảo đối với giai cấp thống trị…, đó là một quy luật
của đấu tranh cách mạng.
Đồng chí thực sự là tấm gương tiêu biểu, cho người
cộng sản Việt Nam kiên cường, bất khuất, người học trò lỗi
lạc, gần gũi và trung thành hết mực của Chủ tịch Hồ Chí
Minh vĩ đại trong sự nghiệp lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân
đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, hoàn thành trọn
vẹn công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Đồng chí thực sự là người kế tục xuất sắc sự nghiệp
cách mạng cao cả “cứu nước, cứu dân” của Bác Hồ vĩ đại.
173
NHIEÀU TAÙC GIAÛ
BÁC HỒ
VỚI ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP *
Võ Văn Tú
Đ
ại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25-8-1911,
tại làng An Xá, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
Thân sinh là cụ Võ Nguyên Thân - một nhà nho yêu nước
và giàu chí khí. Cụ bị Pháp bắt ở Huế (khoảng 1946-1947).
Chúng đánh cụ rất dã man và mắng: “Không biết dạy con,
để con chống lại quân đội Pháp”. Cụ Thân cười bảo: “Tôi đẻ
con ra, chưa kịp dạy thì nó đã bỏ nhà đi làm cách mạng. Chừ
tôi muốn dạy con thì còn mô mà dạy? Vậy tôi nhờ quân đội
Pháp hùng mạnh đi bắt giúp con tôi về đây để tôi dạy thử,
coi con tôi có chịu nghe không”. Chúng lại càng điên cuồng
tra tấn nhưng vẫn không moi được một lời khai nào, sau đó
chúng đã thủ tiêu cụ.
* Báo điện tử Bắc Ninh, ngày 22-12-2009.
174
Nhöõng göông chieán só caùch maïng hoïc taäp vaø laøm theo tö töôûng,...
Từ bé, Đại tướng đã được cụ thân sinh dạy học tại nhà
và sau đó đi học ở trường làng. Đại tướng luôn được bố mẹ
rèn cặp, hun đúc lòng yêu nước và tự hào dân tộc. Đến năm
13 tuổi, Đại tướng vào học ở trường Quốc học Huế, sau ra
Hà Nội học tiếp và đã hăng hái tham gia các hoạt động yêu
nước của sinh viên, học sinh. Năm 1929, Đại tướng tham gia
cải tổ Tân Việt Cách mạng Đảng thành Đông Dương Cộng
sản Liên đoàn, sau đó tiếp tục hoạt động trên lĩnh vực văn
hóa - giáo dục, làm thầy giáo dạy lịch sử tại Trường Tư thục
Thăng Long và có nhiều bài viết cho các tờ báo ra công khai
lúc bấy giờ như Tin Tức, Nhân Dân, Lao Động. Giai đoạn
1936-1939, Đại tướng là một trong những người sáng lập
Mặt trận Dân chủ Đông Dương và có nhiều hoạt động nổi
bật về vấn đề đấu tranh đòi ruộng đất cho nông dân. Sau
thời kỳ này, Đại tướng đã ra nước ngoài, hoạt động trong
phong trào hải ngoại ở Trung Quốc.
Tháng 6-1940, Đại tướng được gặp Bác Hồ lần đầu tiên
ở Thúy Hồ (Trung Quốc). Được sự dìu dắt của Bác, ngay
trong năm 1940, Đại tướng được kết nạp vào Đảng Cộng
sản Đông Dương. Từ năm 1941, Đại tướng trở về nước hoạt
động, tích cực tham gia thành lập Mặt trận Việt Minh và
được giao phụ trách Ban Xung phong Nam tiến.
Cuối năm 1944, Bác Hồ tin tưởng giao cho Đại tướng
chọn lựa những cán bộ, chiến sĩ anh dũng nhất với những
vũ khí tốt nhất, lập thành một đội vũ trang mang tên là “Đội
Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân”. Bác đã nói: Việc
175
NHIEÀU TAÙC GIAÛ
quân sự thì giao cho chú Văn (Văn là bí danh của Đại tướng).
Sau một thời gian chuẩn bị, Đội Việt Nam Tuyên truyền
Giải phóng quân được thành lập vào ngày 22-12-1944, tại
một khu rừng ở châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Sau này,
khu rừng ấy được đặt tên là khu rừng Trần Hưng Đạo, còn
Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân chính là tiền
thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trước khi thành
lập, Bác nói với Đại tướng là trong vòng một tháng phải có
hoạt động. Điều kỳ diệu là chỉ hai hôm sau, vào ngày 24 và
25-12-1944, Đội đã liên tiếp đánh thắng hai trận vang dội,
diệt gọn hai đồn Phai Khắt và Nà Ngần của địch.
Trong những ngày cả nước sục sôi khí thế cách mạng,
khi chiến tranh thế giới lần thứ II đã dần ngã ngũ với thắng
lợi thuộc về phe đồng minh thì ở căn cứ Việt Bắc, Bác bị ốm
rất nặng. Lúc này, cán bộ Trung ương ở bên cạnh Bác chỉ có
Đại tướng. Bác sốt liên tục, hễ tỉnh lại lúc nào là nói chuyện
tình hình và nhiệm vụ cách mạng như có ý dặn lại mọi việc
với Đại tướng. Trong những điều Bác dặn dò ấy, có một câu
nói đã mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc: “Lúc này, thời cơ thuận
lợi đã tới, dù hy sinh đến đâu, dù có phải đốt cháy cả dãy
Trường Sơn cũng kiên quyết giành cho được độc lập!”.
Cách mạng tháng Tám vừa thành công thì thù trong
giặc ngoài ráo riết chống phá, hòng bóp chết Nhà nước Cộng
hòa non trẻ. Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo ra sức chèo lái
vận mệnh sơn hà và đã phải nhân nhượng với kẻ thù nhiều
điều nhằm kéo dài thời gian hòa hoãn, chuẩn bị cho công
176
Nhöõng göông chieán só caùch maïng hoïc taäp vaø laøm theo tö töôûng,...
cuộc kháng chiến. Song những nhân nhượng ấy cũng có một
số cán bộ chưa đồng tình. Để thông suốt chủ trương, trong
một cuộc họp, Bác đã hỏi: “Mình đứng đây, cái bục ở đây Bác chỉ vào cái bục ở ngay trước ngực - Mình có thể nhảy
qua cái bục này được không?”. Mọi người ngạc nhiên, chưa
biết Bác định nói gì, thì Bác chỉ tay vào Đại tướng: “Chú
Giáp! Chú là người giỏi văn, giỏi võ, chú thấy có thể nhảy
qua được không?”. Đại tướng từ tốn trả lời: “Thưa Bác! Có
thể nhảy qua được với một điều kiện”. Bác hỏi tiếp: “Điều
kiện gì?”. Đại tướng bình tĩnh đáp: “Thưa Bác! Mình phải
lùi lại một khoảng để lấy đà”. Bác liền khen: “Chú nói đúng!
Chúng ta nhân nhượng với giặc chính là đang lùi lại để lấy
đà đấy!”.
Đến một cuộc họp Hội đồng Chính phủ sau đó, Bác
Hồ hỏi Đại tướng: “Nếu địch mở rộng chiến tranh trên miền
Bắc, Hà Nội có thể giữ được bao lâu?”, Đại tướng trả lời:
“Thưa Bác! Có thể giữ được một tháng”. Bác lại hỏi: “Các
thành phố khác thì sao?”, Đại tướng trả lời: “Các thành phố
khác thì ít khó khăn hơn”. Bác hỏi tiếp: “Còn vùng nông
thôn?”, Đại tướng trả lời: “Vùng nông thôn ta nhất định
giữ được”. Sự trả lời vững vàng của Đại tướng làm cho Bác
nhanh chóng quyết định “Ta lại trở về Tân Trào”, chọn căn
cứ địa Việt Bắc làm Thủ đô kháng chiến. (Thực tế khi cuộc
kháng chiến chống Pháp bùng nổ, chúng ta đã giữ được Hà
Nội hơn 2 tháng).
Xuân Mậu Tý 1948, tại chiến khu Việt Bắc, Bác Hồ
177
NHIEÀU TAÙC GIAÛ
đã ra một vế đối: “Giáp phải giải pháp”, ý nói Đại tướng Võ
Nguyên Giáp phải chỉ huy quân đội đánh thắng giặc Pháp,
nhưng vế đối khó ở chỗ 2 chữ Giáp phải khi nói lái sẽ trở
thành giải pháp. Mọi người còn đang đăm chiêu suy nghĩ
thì ông Tôn Quang Phiệt đứng lên xin đối là: “Hiến tài hái
tiền”. Hiến chỉ Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến và Hiến
tài nói lái sẽ trở thành hái tiền. Thật là hay! Vế xướng nói về
kháng chiến, vế đối nói về kiến quốc, chính là hai nhiệm vụ
chiến lược của cách mạng nước ta trong thời kỳ này.
Cuối năm 1953, Đại tướng được giao nhiệm vụ ra mặt
trận làm Tổng Tư lệnh kiêm Chính ủy Bộ Chỉ huy Chiến
dịch Điện Biên Phủ. Trước khi Đại tướng lên đường, Bác Hồ
đã căn dặn: “Chú ra mặt trận, tướng quân tại ngoại, có toàn
quyền quyết định. Trận này rất quan trọng. Các chú nhất
định phải thắng. Chắc thắng thì đánh. Không chắc thắng,
không đánh”. Nhớ lời căn dặn của Bác, khi đến Điện Biên
Phủ, trực tiếp theo dõi tình hình địch suốt 11 ngày đêm, thấy
địch đã xây dựng hệ thống phòng thủ kiên cố, Đại tướng xét
thấy phương châm “đánh nhanh, giải quyết nhanh” không
bảo đảm chắc thắng. Từ đó, Đại tướng đã quyết định thay
đổi phương châm từ đánh nhanh, giải quyết nhanh thành
đánh chắc, tiến chắc. Thực tế đã chứng minh sự thay đổi ấy
là một yếu tố cực kỳ quan trọng để làm nên Chiến thắng lịch
sử Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu và
Bác Hồ đã gọi đó là “cây cột mốc bằng vàng”.
Những chiến công của quân đội ta trong hai cuộc
178
Nhöõng göông chieán só caùch maïng hoïc taäp vaø laøm theo tö töôûng,...
kháng chiến chống Pháp và Mỹ luôn gắn liền với tên tuổi
của Đại tướng. Là một vị tướng lừng danh thế giới, nhưng
Đại tướng luôn coi mình là người học trò của Chủ tịch Hồ
Chí Minh. Hiện nay, Đại tướng là Chủ tịch danh dự Hội Cựu
chiến binh Việt Nam. Đại tướng thường kể lại với mọi người
về những ấn tượng sâu sắc trong lần đầu tiên được gặp Bác
Hồ: “Ngay từ đầu, tôi đã cảm thấy như mình được ở rất gần
Bác, được quen biết Bác từ lâu rồi! Ở Bác toát ra một cái gì
đó rất trong sáng, gần gũi. Một điều làm tôi hết sức cảm phục
là khi nói chuyện với tôi, Bác nói rất nhiều tiếng địa phương.
Tôi không ngờ một người xa đất nước lâu năm như Bác mà
vẫn giữ được nguyên vẹn tiếng nói của quê hương...”.
179
NHIEÀU TAÙC GIAÛ
ĐỒNG CHÍ PHẠM VĂN ĐỒNG *
Đ
ồng chí Phạm Văn Đồng là một trong những cán
bộ lớp tiền bối của Đảng và cách mạng Việt Nam,
người học trò gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. 94 tuổi, 75
năm hoạt động cách mạng liên tục, từ thời dựng Đảng đến
thời kỳ đổi mới, dấu ấn hoạt động của đồng chí in đậm trên
cả ba miền Bắc - Trung - Nam và nhiều nơi trên thế giới. Trải
qua thử thách 7 năm trong lao tù thực dân đế quốc, bị mật
thám, cảnh sát rình rập, săn đuổi khi hoạt động bí mật, chiến
tranh ác liệt gian khổ và thiếu thốn…, nhưng đồng chí vẫn
một lòng kiên trung với Đảng, với cách mạng, phấn đấu vì
Đảng, vì dân cho đến những ngày cuối cùng của đời mình.
Được Đảng và Nhà nước tin cậy giao phó nhiều trọng
trách: 41 năm là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
* Tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị - Hành chính,
Hà Nội, 2009, tr.245-258.
180
Nhöõng göông chieán só caùch maïng hoïc taäp vaø laøm theo tö töôûng,...
35 năm là Ủy viên Bộ Chính trị, 32 năm là Thủ tướng Chính
phủ, 10 năm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương, đồng chí
là “người cộng sản kiên cường, mẫu mực; nhà lãnh đạo có uy
tín của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, người con rất mực
trung thành, suốt đời chiến đấu vì độc lập dân tộc, vì chủ
nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân”.
Suốt cuộc đời hoạt động, trong bất cứ hoàn cảnh nào
đồng chí Phạm Văn Đồng luôn tin tưởng vào thắng lợi của
cách mạng, tương lai của đất nước, mang hết nhiệt tình, tài
năng và trí tuệ cống hiến cho sự nghiệp đấu tranh vì độc lập
tự do, vì chủ nghĩa xã hội. Với trọng trách của mình, đồng
chí Phạm Văn Đồng hết sức quan tâm tới công tác củng cố
bộ máy chính quyền Nhà nước. Đồng chí thường nói: “Việc
tăng cường Nhà nước dân chủ nhân dân là một nhiệm vụ cơ
bản của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa”.
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của
dân, do dân và vì dân, Phạm Văn Đồng nhấn mạnh rằng:
“Nguyên tắc tổ chức của Nhà nước chúng ta là nguyên tắc
tập trung dân chủ. Dân chủ và tập trung là hai mặt không thể
thiếu và phải mật thiết liên quan với nhau, kết hợp chặt chẽ
với nhau của tổ chức Nhà nước chúng ta”.
Nhận thức rõ Đảng ta là đảng cầm quyền, Phạm Văn
Đồng yêu cầu đảng viên là cán bộ chính quyền các cấp phải
“quan niệm cho đúng quan hệ lãnh đạo của Đảng đối với
Nhà nước và mọi ngành hoạt động của Nhà nước”. “Chỉ có
tăng cường quan hệ lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước thì
181
NHIEÀU TAÙC GIAÛ
chúng ta mới tăng cường được tác dụng to lớn của Nhà nước
trong thời kỳ quá độ, trong việc xây dựng xã hội mới, đời
sống mới, do đó mà nêu cao địa vị và uy tín của Nhà nước”.
Trong việc lãnh đạo kinh tế, đồng chí Phạm Văn Đồng
luôn đòi hỏi mọi cán bộ phải làm việc thật sự hiệu quả, có
năng suất và chất lượng cao, phải thực hành tiết kiệm, chống
tham ô, lãng phí, quan liêu. Đồng chí nhấn mạnh: “Muốn
quản lý tốt, cần quy định rõ ràng chính sách, chế độ, thể lệ,
định mức về các việc điều động, phân phối và sử dụng tiền
bạc, máy móc, đất đai, vật tư và nhân lực cho mọi ngành, mọi
cấp, mọi địa phương, phải coi đó là kỷ luật của Nhà nước, ai
làm sai có lỗi, người phụ trách phải thường xuyên kiểm tra và
xử lý kịp thời, đúng mức những vụ sai trái”.
Đồng chí là một người lãnh đạo có uy tín lớn, được
cử giữ nhiều trọng trách trong các cơ quan lãnh đạo cấp cao
của Đảng và Nhà nước Việt Nam: Trong suốt quá trình đó,
đồng chí Phạm Văn Đồng luôn nghiên cứu lý luận, gắn lý
luận với thực tiễn cách mạng nhằm xây dựng tiền đề và từng
bước hoàn thiện chính quyền của dân, do dân và vì dân,
xứng đáng với những giá trị tinh thần và lý tưởng mà đồng
chí hằng ấp ủ và theo đuổi.
Trước đây, với cương vị là người đứng đầu Chính phủ,
đồng chí Phạm Văn Đồng vui mừng trước những thành quả
mà nhân dân ta đã đạt được trong xây dựng kinh tế, nhưng
rất trăn trở trước những yếu kém, những khuyết điểm trong
lãnh đạo, quản lý vĩ mô.
182
Nhöõng göông chieán só caùch maïng hoïc taäp vaø laøm theo tö töôûng,...
Ngày 6-7-1987, Hội đồng Bộ trưởng họp thường kỳ
để kiểm điểm tình hình công tác 6 tháng đầu năm theo tinh
thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI. Đây là phiên họp
cuối cùng do đồng chí Phạm Văn Đồng chủ trì trên cương
vị Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Phát biểu tại cuộc họp, với
tinh thần trách nhiệm cao trước những khó khăn, yếu kém
trong công tác quản lý, điều hành các lĩnh vực kinh tế - xã hội,
đồng chí nói: “Cần nói ngay về tính hiệu quả của Hội đồng
Bộ trưởng, mà chủ yếu là hiệu quả công tác của đồng chí
Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Nếu chúng ta không suy nghĩ
ngày đêm để phấn đấu cho nền kinh tế - xã hội có chuyển
biến, có những bước phát triển để đời sống của nhân dân tốt
hơn, đỡ khổ hơn, nếu chúng ta không làm như vậy, tôi nghĩ
là chúng ta không xứng đáng”.
Là một trong những nhà lãnh đạo chủ chốt của Đảng
và Nhà nước, đồng chí Phạm Văn Đồng rất quan tâm đến
công tác giáo dục, bồi dưỡng và rèn luyện đội ngũ cán bộ,
đảng viên. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác
cán bộ, đồng chí cho rằng, Đảng phải chăm sóc cán bộ, đảng
viên như người làm vườn, “vừa vun xới cho cây, cho hoa,
vừa phải nhổ cỏ trừ sâu, và nhổ cỏ tận gốc, diệt sâu phải
diệt từ trứng. Có như thế hoa mới càng đẹp, quả mới càng
ngon”. Đồng chí rất đau lòng khi tệ quan liêu, tham nhũng,
ăn cắp phát triển và trở thành quốc nạn. Từ đáy lòng mình,
đồng chí nói những lời tâm huyết: “…tôi nghĩ rằng cái nhà
của chúng ta hiện nay đang nhiều rác rưởi và dơ bẩn, làm
183
NHIEÀU TAÙC GIAÛ
cho quần chúng nhân dân phẫn nộ một cách chính đáng.
Trong tình hình như vậy, việc chúng ta phải đặt lên hàng đầu
công tác quét cái nhà của chúng ta, quét mọi rác rưởi và dơ
bẩn, làm cho nó ngày càng sạch sẽ, có như vậy chúng ta mới
có môi trường và cơ hội thuận lợi để làm tốt các công tác
khác…”. Ý thức trách nhiệm và những quan điểm chỉ đạo
của đồng chí Phạm Văn Đồng là rất xác đáng và có ý nghĩa
thời sự to lớn trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Phạm Văn Đồng - Tấm gương đạo đức cách
mạng trong sáng
Là một học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
đồng chí Phạm Văn Đồng là một tấm gương rèn luyện đạo
đức cách mạng, suốt đời cống hiến, hy sinh cho cách mạng,
tận trung với Đảng, với nước, tận hiếu với dân.
Đồng chí Phạm Văn Đồng là người luôn có tình cảm
chân thành với đồng chí, bạn bè. Đồng chí là người rất kính
trọng những người bạn chiến đấu cùng thời. Vào những dịp
kỷ niệm trọng thể - ngày sinh hay ngày mất của cán bộ tiền
bối như Tổng Bí thư Lê D...
 
THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC LÔ MÔ NÔ XỐP MỸ ĐÌNH
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.






ĐỌC TRUYỆN